Cập nhật một số hình ảnh mới !


Click vào đây để xem hình.

Các loại hoa kiểng


Click vào để xem


[Đang cập nhật]

Tháng 01/2011

Triết lý cây kiểng


Photobucket

Cỏ cây hoa lá có một sức hấp dẫn diệu kỳ đối với người Á Đông, nhứt là nhân dân ta đã coi thú chơi cây kiểng như một hoạt động văn hóa vừa mang tính thẩm mỹ vừa thể hiện một lối sống. Ngay từ thời xa xưa, ông cha ta đã từng gắn bó với hoa thảo và muốn gởi gắm vào gốc cây, chậu kiểng những ước mơ, hoài bão cao cả của mình.
Trên đường tìm về lẽ sống, ai cũng muốn đem cái tâm nhỏ bé của mình hòa vào cái tâm bao la của trời đất để được gần gũi với thiên nhiên vì thiên nhiên hiền hòa giống như một bà mẹ. Thiên nhiên đẹp và hấp dẫn, ai cũng thấy điều đó nhưng bàn về giá trị thẩm mỹ và ý nghĩa triết lý của cây kiểng thì lại có quá nhiều ý kiến khác nhau. Trường phái tự nhiên cho rằng cây kiểng đẹp phải toát lên từ giá trị mỹ cảm, còn trường phái xã hội thì lại cho rằng cây kiểng đẹp phải có mối quan hệ gắn bó với đời sống con người, nhứt là đời sống tinh thần. Chẳng hạn như mai, trúc, tùng đẹp vì nó tượng trưng cho những đức tính cao quý “ngự sử mai, quân tử trúc, trượng phu tùng”. Mai, đào khả ái, thanh cao lại còn là hoa Tết, là sứ giả của mùa Xuân. Cây liễu tượng trưng cho vẻ đẹp của phụ nữ “mình liễu, liễu yếu đào tơ”. Thơ ca Trung Quốc và Việt Nam thường ca ngợi “tùng hùng vĩ, mai thanh kỳ, trúc thanh nhã, liễu yểu điệu như thiếu nữ”, lại còn coi Tùng - Trúc - Mai là tam kiệt hoặc tam hữu (*). Trái lại cũng có một số cây bị người đời xa lánh vì nó không đem lại niềm vui, hạnh phúc cho người “ma cây gạo, cú cáo cây đề”.

Cây cũng có thứ thanh cao, có thứ tầm thường, có thứ nhã, có thứ tục (**) nên hầu hết những người sành điệu đều chọn những cây có ý nghĩa thanh cao và có giá trị nghệ thuật để đưa vào chậu, chẳng hạn như sung, ngâu, nguyệt quới, mai vàng, khế, lựu... hoặc những cây mang tính trầm mặc, u tĩnh, tiêu biểu cho sự ẩn dật như sanh, si, gừa, bồ đề... Thời phong kiến, các bậc vua chúa còn phân chia cây kiểng ra làm nhiều thứ bậc: vua chơi cây trắc bá, quan đại thần chơi cây loan, nho sĩ chơi cây si và bậc phong lưu chơi cây liễu. Người chơi cây kiểng ít nhiều đều chịu ảnh hưởng của triết lý phương Đông. Lão Tử cho rằng “Đại khối trầm tĩnh vô ngôn”, một cây kiểng sống lâu năm cũng giống như một ông già minh triết đang trầm tư trước trời đất bao la. Vì vậy, người chơi kiểng rất thích băng rừng lội suối để săn tìm những dáng cây độc đáo, thân hình vặn vẹo, có gốc rễ ngoằn ngoèo, tượng trưng cho sự sống trơ trụi một mình giữa đỉnh hú mây ngàn mà vẫn hiên ngang vượt qua phong ba bão táp.

Mỗi người đều nhìn vẻ đẹp bằng cái tâm, bằng sự thể nghiệm, cũng như nhà văn Sơn Nam cho rằng cây kiểng đóng vai trò viên ngọc, cái đỉnh đồng. Nó gần gũi với con người và thơ mộng như một bài thơ siêu thoát, hiền lành. Có người say mê đến nỗi muốn thổi hồn vào từng gốc cây và trân trọng như gìn vàng giữ ngọc. Nhà thơ Cao Bá Quát cả đời chỉ bái phục có hoa mai “nhứt sinh đê thủ bái mai hoa”. Nguyễn Trung Ngạn coi mai hơn hẳn các loài hoa khác “Dã mai cốt cách nguyên phi tục”. Phan Kế Bính đã từng viết: “Nhàn cư vô sự”, lúc nhàn hạ ông cha ta tiêu khiển bằng cách đắp đá trồng cây để ký thác hoài bão, di dưỡng tính tình và giữ cho thần chí được k h o a n khoái. Cây cảnh có trăm ngàn cái đẹp, đẹp về hình thức lẫn nội dung, đặc biệt là ý nghĩa xã hội, nhưng cái đẹp thường là cái không thể cắt nghĩa được. Do đó nhà văn Sơn Nam đã viết: “Non bộ và cây kiểng bắt nguồn từ một triết lý, nói nôm na là một đạo nghệ, đạo nghĩa”.

Đất Thăng Long đã từng nổi tiếng với những vườn ngự uyển thời Lý, Lê nay vẫn còn ghi trong sử sách. Đặc biệt cây thế ở vùng đất nghìn năm văn vật thường tạo dáng theo một chủ đề nặng về luân lý, đạo đức như thế tam đa, ngũ phúc, phụ tử, huynh đệ, song thụ và thường sử dụng 4 dáng chính như: trực, hoành (nằm ngang), huyền (thác đổ), xiêu (nghiêng). Nhưng đa số các cụ lại thích dáng trực để biểu hiện cho sự ngay thẳng chính trực, các dáng khác tuy đẹp và lãng mạn nhưng lại mềm mại, gãy đổ.

Người Huế ngoài những cây kiểng uốn sửa theo quy cách cung đình, họ còn thích chơi những cây có trái sum sê tượng trưng cho sự sung mãn, phát tài, đặc biệt là những cây có hoa thơm man mác, dịu dàng.

Đối với cây kiểng phương Nam, đòi hỏi người chơi phải có trình độ cao về tay nghề bởi vì mỗi lối chơi, mỗi thế kiểng đều mang một ý nghĩa triết lý. Loại hình nghệ thuật nầy được uốn sửa theo điển tích, vật linh hoặc những hình tượng về đạo nghĩa như thế phụ tử, mẫu tử, phu phụ, huynh đệ, tỉ muội, xuy phong, long thăng, long giáng, hạc lập, nhứt trụ kình thiên...

Mỗi thế kiểng đều phải cắt tỉa, uốn sửa đúng tàn, đúng điệu, không thừa không thiếu. Ngay cả ngọn cây cũng có nhiều cách biểu hiện khác nhau tùy theo tâm ý của mỗi người. Nếu uốn cho ngọn cao lên gọi là “tàn vỏ”, thể hiện sự vươn lên và ẩn ý kiêu căng tự phụ. Uốn thấp gọi là “tàn văn”, thể hiện sự khiêm tốn. Uốn vừa là “trung dung”. Các tàn nhánh cũng dựa theo các nguyên lý âm dương “âm cực dương sinh, dương cực âm sinh” cốt tạo nên sự cân đối hài hòa. Bởi thế, có nhiều nghệ nhân rất nghiêm khắc với cách tỉa cành, cắt ngọn, dựa trên ba yếu tố Thiên - Địa - Nhân.

Về kiểu dáng (style), người chơi kiểng cổ thường bố trí theo phong cách tam cương ngũ thường, xuy phong mẫu tử hoặc tam tòng tứ đức nhằm tạo nên những khuôn mẫu luân lý và đạo đức cổ nhân. Mỗi cây kiểng, mỗi dáng thế ngoài vẻ đẹp hình thức còn mang một nội dung sâu kín mà người chơi muốn gởi gắm vào đó “Tâm ư trung hình ư ngoại”.

Ngày nay, người chơi kiểng không còn những nét ràng buộc và gò bó như xưa, nhứt là từ khi kiểng Bonsai phát triển mạnh. Khác hơn kiểng thế Hà Nội và kiểng cổ Nam Bộ, Bonsai có nguồn gốc từ Trung Quốc và phát triển mạnh ở Nhật, một loại hình nghệ thuật mô phỏng thiên nhiên và được coi là những tác phẩm nghệ thuật sống, đòi hỏi người chơi không chỉ có một tâm hồn nghệ sĩ, một bàn tay khéo léo mà còn phải hiểu biết về đặc điểm sinh thái của từng loài cây và kỹ thuật nuôi trồng. Mỗi cây Bonsai là một tác phẩm độc đáo, không thể có hai cây hoàn toàn giống nhau và cũng không có cây nào đạt tới mức hoàn thiện. Kiểng Bonsai rất thanh thoát và tự nhiên nhưng hàm chứa một khái niệm nhẫn nhục, từ tốn, tượng trưng cho tinh thần chịu đựng, trầm tĩnh, trang nghiêm và đức hạnh. Tomlinson, bậc thầy về Bonsai thế giới cho rằng Nhật đã tôn vinh vẻ đẹp của thiên nhiên bằng cách đưa cây vào chậu và nâng nó lên thành triết lý sống, một loại hình nghệ thuật hoàn hảo mang đậm dấu ấn thiên nhiên và tâm hồn người nghệ sĩ.

Lão Tử và Trang Tử khuyên con người hãy quay về với thiên nhiên, phải sống tương sinh tương hòa với trời đất cỏ cây. Người chơi cây kiểng cảm thấy thiên nhiên như gần gũi bên mình, trời đất bao la như gom về một mối. Người Trung Quốc cũng gọi cây cảnh thu nhỏ là Penjing, là bức tranh ba chiều và là một thứ thơ ca im lặng. Ông cha ta chơi cây kiểng không những quan tâm tới “nhứt hình, nhì thế, tam chi, tứ diệp” có nghĩa là nặng về dáng cây, thế kiểng, tàn nhánh, lá mà còn yêu tiếng chim hót trên cây, tiếng dế trong hốc đá và cả ánh trăng thanh trong những đêm hè.

Trong cuộc sống vội vã hôm nay, những lúc gần gũi với cây cảnh tâm hồn chúng ta sẽ trở nên thư thái, nhẹ nhàng và tạo ra được những cảm xúc dương tính, cuộc đời sẽ tràn ngập vui sướng. Càng quan tâm đến chúng, chúng sẽ càng chia buồn sẻ ngọt với chúng ta. Khách Tây ba lô đến Việt Nam mỗi lần nhìn các cụ già say mê ngắm nghía từng chậu kiểng hoặc trầm tư trước những cục đá vô tri vô giác đều không khỏi ngạc nhiên về thái độ và phong cách ung dung tự tại của con người Việt Nam. Ông cha ta nghiệm thấy rằng “Sơn trung tự hữu thiên niên thọ. Thế thượng nan phùng bách tuế nhân” (Trên núi ngàn năm cây vẫn có. Trên đời khó gặp người trăm tuổi). Vì thế, người chơi cây kiểng luôn có những khát vọng trường sinh, xem cây cảnh như một bức tranh kỳ mỹ, một viện điều dưỡng miễn phí có khả năng điều chỉnh cuộc sống con người. Có lẽ vì vậy mà nhà văn Lâm Ngữ Đường (TQ) mới viết: “Nhà cửa không cây cối chung quanh thì trơ trẽn cũng như người không bận quần áo...” (***)

Những người yêu thích thiên nhiên luôn luôn ứng xử với cây kiểng như một bạn hiền và còn coi đó là một nguồn cảm hứng vô tận, giúp họ vươn tới cái đẹp để hoàn thiện cuộc sống.

Ngày nay, thú chơi hoa và cây kiểng đã trở thành một nhu cầu, nhu cầu hưởng thụ và thư giãn, nhu cầu thưởng thức và sáng tạo nhằm vươn tới chân - thiện - mỹ. Mặc dù cây cảnh hiện nay bị chi phối bởi nhiều xu hướng thẩm mỹ và nhiều trường phái khác nhau nhưng tất cả đều cùng hướng về cái đẹp, cái đẹp trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên .


Trích "http://www.vannghesongcuulong.org/vietnamese/tulieu_tacpham.asp?TPID=1325&LOAIID=15&LOAIREF=5&TGID=317"

Cây cảnh - một thú chơi hấp dẫn


Photobucket
Cây cảnh đã đi vào cuộc sống như một mỹ tục, một thú chơi thể hiện một phần tâm hồn của dân tộc Việt Nam. Ông cha ta đã gửi gắm vào cây cảnh tình cảm, ý niệm thẩm mỹ, tínhư chất của mình làm tăng thêm lòng yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu đất nước để tự khẳng định và hoàn thiện mình

Nghệ thuật chơi cây cảnh có tính quần chúng rộng rãi, tính dân tộc đậm đà, tính nhân văn cao quý, tính thẩm mỹ độc đáo, tính triết hoc sâụ sắc tính sáng tạo mới mẻ, tính kinh t'ế cao và làm vẻ vang cho truyền thống văn hóa của dân tộc.

Chơi cây cảnh trồng cây cảnh bao giờ cũng phải coi trọng gốc cây - gốc co to có khỏe thì cây mới mạnh, gốc phải to hơn thân. Gốc càng to càng thể hiện cây đã sống lâu năm. Nếu gốc có nhiều rễ nổi, rễ sum suê càng đẹp. Cây trồng trong chậu phải là một gốc, trừ một số thế cây quần tụ có từ ba đến bốn gốc trở lên. Giữạ chiều cao và bề rộng của cây phải có sự tương xứng. Thân cây mềm mại duyên dáng, xiêu nghiêng hay đứng thẳng khỏe mạnh là tùy theo các thế cây. Cành cây phải được phân bổ hơp lý, cấu tạo so le chia ra các hướng lớn không trùng nhaụ, tránh gò bó. Từ gốc đến chỗ chia cành phải có khoảng cách ít nhất bằng một phần ba chiều cao của cây để nhìn rõ được thân cây khỏe đẹp và thoáng. Không nên để cành che lấp mất thân. Một cây nhiều nhất chỉ nên có bốn cành. Cành dưới cùng gọi là cành thân hay cành hồi âm, có giá trị tạo cảm giác cho phần gốc cây có hậu, vững chãi, bền lâu. Cành thứ hai và thứ ba là cành tả và cành hữu là hai cành chính của cây. Cành thứ tư là cành tế thân, cũng được gọi là "cành ức" hay "cành hầu", cốt để cho phần cổ đỡ trơ lộ, góp phần cho bố cục tổng thể toàn cây chặt chẽ. Các cành phải được xén tán lá cho ngang phẳng, gọn gàng, không để cho lá cây mọc tự nhiên, um tùm.

Cây phải có ngọn, ngọn vươn cao hơn cành, không nên dùng cây gãy ngọn hoặc không có ngọn. Nếu ngọn thấp hơn cành cũng không được. Ngọn cây để tự nhiên, ngả theo hướng nào tuỳ thuộc vào thế cây.

Tại sao cành và ngọn phải là năm tán? Ngày xưa con người quan niệm cuộc đời có bốn giai đoạn: sinh, trưởng,lão, tử (sinh ra, trưởng thành, già và chết), nếu qua "tử" rồi thì phải là "sinh". Cây cảnh là biểu tượng con người, thể hiện khát vọng, lý tựởng, lẽ sống, ý niệm thẩm mỹ của con người.

Cây cảnh phải được bàn tay nghệ thuật của con người tác động vào để hình thành một thế cây. Đó là một dáng đứng, một điệu vươn của cây có bố cục chặt chẽ, đẹp đẽ - một tác phẩm nghệ thuật độc đáo có sức sống, toát lên một chủ đề, một ý tưởng nhất định.

Tuổi cây càng cao, càng quý. Cây cảnh đẹp phải là cổ thụ nhưng nhỏ gọn, để nói lên ý nghĩa trường tồn.

Tùy theo từng loại cây cảnh mà trồng vào các chậu cảnh thích hợp, tương xứng và đep. Chậu cảnh đẹp sẽ làm tăng thêm giá trị thẩm mỹ.

Chơi cây cảnh phải để đúng chỗ, cây to hoặc nhỏ, phụ thuộc nơi ở của mình rộng hay hẹp và bao giờ cũng có thể ngắm nhìn được.

Có rất nhiều thế câv cảnh như: thế phượng vũ, thế ngũ phúc, thế huynh đệ, thế phụ tử, thế mẫu tử, thế long giáng, thế phượng vũ long đàn, thế bạt phong hồi đầu, thế trực liên chi, thế long ẩn, thế lão mai thế tam đa, thế tứ quý, thế nguyệt ảnh, thế địa đạo huyên nhi, thế phượng rồng sóng đôi, thế đón gió, thế chờ đợi, thế ngẫu tự, thế nhà hiền triết...

Biết nhìn các thế của cây cảnh, đặc biệt là biết tạo ra các thế cây, hiểu ý nghĩa củạ các thế cây cảnh là một điều rất lý thú. Xin giới thiệu ba thế cây tiêu biểu:

- Thế ngũ phúc: Cây có bốn cành, một ngọn là 5 tán đều phải xén phắng, ngang bằng, không tán nào được vổng, mỗi tán được chia ra một hướng. Dáng cây là biểu tượng của năm điều ước muốn giản dị mà vĩ đại của con người xưa, nay: Phúc Lộc, Thọ, Khang, Ninh.

- Thế phượng vũ (chim phượng múa): Cây có bốn cành, một ngọn là 5 tán. Cành hồi âm quặt phía sau tượng trưng cho đuôi chim. Hai cành tả hữu thành hình hai tán xòe như hai cánh chim đang xòe múa. Cành ức nhỏ hơn các cành khác, ngọn cây để dài ra vươn lên, tượng trưng cho đầu chim. Dáng cây có làn đi ngang, hơi chúc xuống làm biểu tượng con chim phượng hoàng đang múa đón con người, vui với những thành quả tốt đẹp.

- Thế huynh đệ (hoặc huynh đệ đồng khoa): Cây một gốc, hai thân (có thể trồng ghép hai cây lại nhưng phải tạo thành một gốc). Hai thân có độ cao thấp, to nhỏ suýt soát nhau, kề sát nhau đẹp đẽ. Mỗi thân đều có 5 tán, các tán đan xen nhau. Ngọn cây nhỏ phải ngả hướng sang cây lớn như anh em, biểu lộ tình âu yếm ruột thịt.

Con người tạo dựng và chơi cây cảnh cũng là tạo dựng cuộc đời, tâm hồn, trí tuệ, ước muốn của mình. Vì vậy, cây cảnh là mảnh tâm hồn của ta, làm cho ta hướng về cái đẹp, cái thiện, sống đẹp đẽ và tốt lành hơn. Đó là những tác phẩm nghệ thuật đặc biệt, có nhựa sống của thiên nhiên và con người làm cho con người hoà nhập với thiên nhiên vĩnh hằng và kỳ thú.

Trích http://my.opera.com/kyhaport/blog/show.dml/923550

Cây kiểng là một loại hình nghệ thuật có từ ngàn xưa



Ở Việt Nam, nó đã được phổ biến thành một dạng nghệ thuật dân gian. Tùy theo quan niệm thẩm mỹ của từng dân tộc, từng khu vực mà cây kiểng có nhiều kiểu thức khác nhau. Nói đến kiểng xưa, kiểng thế ta nhận thấy kiểu hình của nó rất đa dạng và phong phú. Tuy nhiên cây kiểng cổ được uốn sửa theo lối chiết chi nghị diện, thế tam tùng tứ đức là một dạng thức đặc biệt, rất đặc trưng cho khu vực Nam Bộ. Đây là một kiểu thức đại diện cho cây kiểng xưa ở miền Nam mà không nơi nào có loại hình này.

Về nguồn gốc, có thể nói từ khi Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh, người có công khai phá vùng đất phía Nam, và đã đưa những lưu dân ào lập ấp, xây dựng cuộc sống mới. Trong dòng người lưu dân này (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Qui Nhơn...) rất đa dạng về thành phần, còn có một số người có điều kiện hơn nhưng họ chán ghét cuộc đời làm quan; thêm vào đó là chiến tranh liên miên giữa Chúa Nguyễn và Chúa Trịnh làm cho dân chúng ngày càng cơ cực. Cho nên họ là những con người có thể do được chiêu mộ, bị lưu đày hay tự động bỏ xứ mà tìm vào phương Nam mưu cầu một cuộc sống mới. Chính điều này ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần, tư tưởng của họ trong quá trình xây dựng, phát triển cuộc sống trên vùng đất mới và cũng có thể nói rằng trong tư tưởng của họ vẫn còn một hoài niệm về cố hương, họ vẫn không quên nguồn gốc của mình, không quên đạo làm người, dù có bỏ xứ, bỏ chùa mà đi. Điều này thể hiện rất rõ trong phong cách, lối uốn sửa tạo dáng cây kiểng xưa mà chúng ta đang xem xét.

Theo thời gian những người ở đất phương Nam, dần dà xây dựng được sự nghiệp. Cùng với sự phát triển về kinh tế, sự phân hóa trong xã hội đã xuất hiệ, một số điền chủ có tài sản ngày càng nhiều, ngay cả người nghèo cũng có một cuộc sống khác hơn thời cha ông lúc còn ở bổn quán. Một cuộc sống mới đã xuất hiện trên vùng đất mới, tuy còn hoang sơ nhưng nhàn. Điều kiện sống tốt hơn, việc trồng cây kiểng hưởng nhàn dần dà định hình trong xã hội. Có lẽ vì tưởng nhớ công ơn của Ông Nguyễn Hữu Cảnh, sợ phạm úy, mà người phương Nam đọc trại từ "Cây cảnh" thành ra "Cây kiểng".

Do ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng Lão giáo, con người muồn gần lại với thiên nhiên hơn và do ảnh hưởng của Nho giáo, nên những bậc tiền thân dù xa quê cha, đất tổ vẫn không quên được nguồn cội và đạo làm người. Cho nên trong quá trình tạo lập cây kiểng họ muốn gởi gắm tinh thần, tâm ý của mình vào từng chậu cây, từng tán lá, nhằm mục đích sửa mình và giáo dưỡng con cháu. Cây được sửa có ngọn qui căn, hồi đầu (thể hiện sự không quên nguồn cội). Thế tam cang ngũ thường hay tam tùng tứ đức (thể hiện đạo làm người ở nam hay nữ thật rõ ràng). Như vậy tư tưởng, triết lý sống của người xưa được hình tượng hóa rất rõ nét qua dáng thố của cây kiểng cổ.

Tên gọi kiểng cổ chỉ mới xuất hiện ở vài thập niên sau này, từ khi loại hình Bonsai của Nhật Bản lan rộng vào miền Nam. Trước kia người ta chỉ gọi là cổ mộc, cây thế, cây cảnh. Đến bây giờ khi nghe tư "kiểng cổ" đại đa số người chơi cây cành đều liên tưởng đến loại hình kiểng chiết chi nhị diện và nó gần như là một định danh cụ thể cho loại hình kiểng này.

Cây kiểng cổ là cây được uốn sửa một cách công phu, đúng số tàn, đúng nhánh, không thừa, không thiếu, mỗi thành phần trong cây đều có một giá trị nhất định, tiềm ẩn một triết lý sống thật cụ thể.

Cây kiểng lấy số 3, 5 làm căn bản do xuất phát từ nguyên lý âm dương, ngũ hành... thường sử dụng số lẻ, ít khi sử dụng số chẵn, ngoài trừ một số cây thể hiện các điển tích. Bộ kiểng cổ ban đầu thường là bộ năm cây gọi là "Ngũ phúc" được xếp theo hình chữ ngũ. Bộ 3 cây gọi là bộ "Tam tài" xếp thẳng hàng. Cây trung bình được xếp ở giữa. Về sau này vì nhiều lý do rất khác nhau, kiểng cổ chỉ còn được thưởng ngoạn ở một cặp đối xứng nhau.

Cây trung bình ở giữa bộ kiểng là cây chủ, thường có tầm vóc cao hơn, cành nhánh được uốn chiết chi theo kiểu âm - dương và thường được sửa theo thế thất hiền hay ngũ phúc.
Các cây hai bên thường thấp hơn, thân được uốn hơi cong theo dáng xuy phong, tùy theo dáng cơ bản và tính chất của cây mà nó sẽ được uốn sửa theo thế mẫu tử hay phụ tử.
Theo quan điểm của người viết bài, nếu xét về mặt tính chất:

Cây đại diện cho phái nam là cây xuy phong thế phụ tử. Hình dáng của cây mạnh mẽ, gân guốc. Cành nhánh được uốn sửa thiên về dương tính, phóng thoáng, nét mạnh (kiểu tàn võ). Cây thường được sửa theo thế "Tam cang ngũ thường" tiêu biểu cho đạo làm người của phái nam trong thời kỳ đó. Tam cang là: quân thần cang (đạo vua tôi), phu thê cang (đạo vợ chồng), phụ tử cang (đạo cha con). Ngũ thường là: năm đức tính của người nam đó là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Nhìn chung đó là giềng mối, phẩm chất của đạo làm người, của người quân tử trong xã hội.
Cây đại diện cho phái nữ là cây xuy phong thế mẫu tử. Hình dáng cây thường mềm mại uyển chuyển. Cành nhánh được uốn sửa một cách ẻo lả hơn, thiên về âm tính (kiểu tàn văn), cành có thể uốn tréo qua thân (tréo chữ nữ) biểu hiện cho nữ tính, cho nên thông thường những loại cây có hoa, có hương thơm thường được sử dụng cho loại hình này. Cây kiểng được sửa theo ý này là cây "Tam tùng tứ đức". Tam tùng đó là: tùng phụ, tùng phu, tùng tử. Tứ đức là bốn đức tính của người phụ nữ: công, dung, ngôn, hạnh.
Việc uốn sửa cây kiểng cổ tuân thủ một cách nghiêm nhặt các quy tắc âm - dương. Xét về hình thái, cấu trúc thân cành ở cây xuy phong thế tam cang ngũ thường thì ta thấy:

Phần gốc thân được trồng và sửa theo một góc nghiêng khoảng 45o so với mặt đất, phần thân bên dưới được uốn cong cho đến khoảng giữa của chiều cao, thân được uốn hướng vào trực chính tâm, phần thân còn lại đến ngọn được uốn lượn nhẹ, cuối cùng ngọn cũng đi vào trục chính tâm của gốc (quy căn) nhằm biểu đạt một điều: Dù có đi xa, phát triển tới đâu cũng không hề quên nguồn cội. Cây tử phát xuất từ gốc cha hợp thành một góc khoảng 90o. Chiều cao của thân cây tử không vượt quá tàn thứ hai của cây chính và được uốn hơi cong theo chiều ngược lại với cây cha.
Cây cha có cấu túc 5 tàn: Gốc xiên về phía bên phải thì tàn thứ nhất được uốn về phía bên phải. Đoạn thân thứ hai uốn cong nhẹ vào trong, tàn thứ hai được uốn về phía trái tuân thủ nguyên tắc Âm - Dương. Đoạn thứ ba được uốn cong vào chính trục tâm của góc, tàn thứ ba được uốn về phía bên phải theo lối chiết chi. Đoạn thân thứ tư uốn lượn theo trục thẳng đứng, tàn thứ tư được uốn về phía bên trái. Đoạn thân thứ năm được uốn về chính tâm gốc (quy căn). Tàn ngọn được hình thành.
Cây tử có cấu trúc ba tàn: Tàn thứ nhất được uốn về phía bên trái tạo nét cân bằng với cây cha. Tàn thứ hai được uốn về phía bên phải theo lối chiết chi. Tàn thứ ba là ngọn chỉ cao bằng hoặc thấp hơn tàn thứ hai của cây cha.
Cành ở cây kiểng cổ được uốn sửa theo lối chiết chi nhị diện có âm, có dương, có văn có võ thật hài hòa. Cành được xếp đặt ở phần lồi của thân. Cành được uốn sửa theo kiểu vòi chạo cong lên, cong xuống thể hiện nguyên lý cực dương biến âm, cực âm biến dương.

Nếu đúng khoảng cách mà cành lại mọc ở vị trí ngược lại (cũng có thể do ý muốn chủ quan) hoặc mọc ở phần lõm của thân, cành sẽ được uốn vòng qua thân chính theo hướng ngược lại. Việc uốn cành như vậy được xem là một nét đẹp của cây và cành này được gọi là cành uốn chữ nữ. Theo quan điểm riêng, thì đây là kiểu uốn tàn văn chứ không phải tàn võ, vì nó biểu đạt tình mềm dẻo, tính nhu, âm, thể hiện nữ tính.

Tàn lá được cắt tỉa thành từng dĩa mỏng, hình tròn, hình trái tim hay được tạo thành khối hình bán nguyệt mỏng. Các nhánh sơ cấp, thứ cấp được cắt tỉa theo lối chiết chi để tạo ra một tàn cây đẹp.
Ngọn là phần cao nhất của cây, được tính là một tàn. Ngọn được cắt sửa thành khối hình bán nguyệt hay dĩa mỏng và nó được sửa theo các kiểu sau:
Kiểu tàn võ (dương): Tàn ngọn mọc thẳng, được cắt sửa thành dĩa hay khối không cho vươn cao lên nữa.
Kiểu tàn văn (âm): Tàn ngọn được uốn cong xuống hướng về phía gốc (ý hồi đầu) rất khiêm tốn nhã nhặn.
Kiểu tàn văn võ (âm - dương): Ngọn được chia ra hai bên tạo thành hai khối quân bằng thể hiện sự cân bằng âm dương, biểu đạt sự trung dung ở đời.
Cách uốn sửa tàn ngọn phụ thuộc vào dáng, thế, tính chất của cây cho phù hợp. Cây có gốc to, dáng thế mạnh mẽ biểu hị nam tính mạnh, được sửa ngọn theo kiểu tàn võ - cây có dáng mềm mại uyển chuyển ngọn được sửa theo lối văn rất hợp lý.

Về chiều cao cây kiểng cổ, thông thường là 1,6m. Vì nó là dạng kiểng dùng để trang trí trước sân nhà, cho nên tầm vóc được sửa cho cân đối hài hòa với nhà và cũng ngang tầm quan sát của người thưởng ngoạn. Tuy nhiên đây cũng là con số tham khảo, chứ không mang tính chuẩn mực như một số tài liệu đã đưa ra. Vì một cây kiểng cổ có giá trị, thể hiện ở tính chất mà nó mang, chứ không phải do khuôn khổ quy định về thước tấc. Chiều cao của cây phụ thuộc vào độ lớn của thân gốc một cách hài hòa và cũng một phần do ý muốn chủ quan của việc trang trí.

Về mặt nguyên tắc, cây kiểng cổ chiết chi nhị diện, bộ cành được uốn sửa theo lối âm - dương nghĩa là một tàn bên này, một tàn bên kia. Tuy nhiên, trong thực tế quan sát được ở một số cặp kiểng cổ ta thấy: hai tàn dưới thấp của cây chính lại được uốn về một bôn, tàn thứ ba mới được uốn về phía đối diện. Ở đây có lẽ nhằm mục đích tạo ra một bố cục cân bằng trong tác phẩm, tác phẩm sẽ không bị nặng về phía cây tử chăng? Và cũng có thể tàn thứ hai của cây chính sẽ không gần mà che khuất tàn ngọn của cây tử tạo nên nét thông thoáng cho tác phẩm.

Nhân việc bàn về cây kiểng cổ chúng tôi xin được nhắc lại câu thiệu: "Vô nữ bất thành mai, vô thập bất thành tùng". Câu này hàm ý chỉ tính chất của cây được uốn sửa một cách mềm mại, yểu điệu, thể hiện được nữ tính ở cây mai. Còn ở cây tùng được uốn sửa một cách dứt khoát, mạnh mẽ, cương trực cành nhánh không được uốn sửa yểu điệu, khí phách phải như người quân tử biểu hiện cho nam tính.

Như vậy cây mai đại diện cho phái nữ, nó được uốn sửa làm sao cho bộc lộ được nét mềm mại, nữ tính là thể hiện được tính chất của cây. Nếu có cành bắt tréo chữ nữ càng đẹp, nhưng trên cây chỉ nên có một cành bắt tréo chữ nữ để biểu diễn tính chất là đủ. Chứ không phải bắt nhiều cành tréo trên cây mai mới thể hiện được điều này, vì nếu cành bắt tréo nhiều trên cây sẽ có một ý nghĩa khác không tốt, không hay. Theo quan điểm riêng, ngay trên một cặp kiểng cổ cũng nên uốn chữ nữ ở một cây mà thôi. Nếu cả hai cây cùng có cành tréo nữ, thì ý nghĩa của nó cũng không tốt, có thể được hiểu theo hướng khác một cách lệch lạc.

Như vậy lối sửa chiết chi nhị diện ở cây kiểng cổ đặc trưng cho miền Nam, thể hiện rất rõ tâm ý của người tạo ra nó. Qua việc thưởng ngoạn cây người xem còn thấy rõ được triết lý sống, hiểu rõ cang thường đạo lý giữa con người và xã hội, để từ đó xác lập được giềng mối gia đình và xã hội tự tu tâm dưỡng tánh, giáo dưỡng tinh thần. Nó không những là một môn nghệ thuật mà còn là một triết lý đạo đức đưa con người đến chân thiện mỹ.

Trích http://my.opera.com/kyhaport/blog/show.dml/923571

Kỹ thuật nuôi trồng kiểng lá trong môi trường thủy canh


Photobucket


Hiện nay, đời sống vật chất của người dân ở Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng đầy đủ hơn thì nhu cầu về giải trí ngày càng tăng, trong đó có thú chơi cây kiểng. Đặc biệt là kiểng lá, bởi lẽ:
• Kiểng lá không đòi hỏi khắt khe về kỹ thuật trồng và chăm sóc giống như một số loại cây trồng khác.
• Bộ lá của kiểng lá rất đẹp, nhiều màu sắc, tuổi thọ của lá dài, chưng bày được quanh năm, phù hợp với việc trang trí trong nhà và phòng làm việc
Mặc khác, ở Thành phố, muốn trồng cây kiểng, bắt buộc người chơi phải mua đất về để trồng, nhưng việc trồng kiểng trên môi trường là đất thường cĩ những nhược điểm như sau: Việc tìm được đất để trồng cây ở thành phố là rất khó khăn; Trồng trên đất thường khó di dời ( khối lượng lớn, trọng lượng nặng); Trong quá trình chăm sóc, tưới nước và bón phân thường làm cho nhà cửa bị bẩn, hoen ố. Đó là chưa kể đến việc quên tưới nước, dẫn đến cây kiểng sẽ chết; Việc bố trí ở nhưng nơi như tủ, bàn … nơi làm việc rất khó khăn do quá nặng và bẩn (do việc tưới nước gây ra) nên người ta ít chưng bày ở các vị trí đó dù rất muốn.
Nhằm khắc phục những nhược điểm mà kiểu trồng cây kiểng trong môi trường đất gây nên, giúp những người chơi cây kiểng có phương pháp trồng tối ưu, giảm công chăm sóc, giúp môi trường sống sạch đẹp. Xin chuyển giao kỹ thuật trồng cây kiểng lá trong môi trường thủy canh như sau:
Bước 1: Cây giống giâm trong môi trường đất cho ra rễ (số lượng rễ càng cành tốt)
Bước 2: Nhổ cây lên, rữa sạch không còn chất hữu cơ, đất, cắt bỏ những rễ già, khô mục…cho vào nước lã (pH = 6.0 - 6.8), giữ cây trong môi trường nước lã khỏang 7 – 10 ngày. Thường xuyên thay nước để chống trường hợp nước hôi thối.
Bước 3: Pha dung dịch dinh dưỡng như Bảng số 1
Bước 4: Châm dung dưỡng từ từ theo tỷ lệ: Dinh dưỡng: nước lã = 1:10, cho đến khi cây quen dần với mội trường này sẽ tiến hành đổ 100 % dung dịch dinh dưỡng để cây phát triển tốt.
Lưu ý:
Trên cơ sở này, mỗi giống có một mức độ thích ứng với nguồn dinh dưỡng khác nhau. Vì vậy, người chơi cần tăng giảm các chất dinh dưỡng sao cho đảm bảo cây sinh trưởng bình thường. Trong quá trình trồng cây trong môi trường thủy sinh, nếu thấy bộ rễ bị thâm đen, có mù thối, cây vàng lá liên tục thì phải bổ sung chất OLC (chất tăng oxy trong nước), liều lượng khỏang 1 – 2g/ 10 lít nước, nhăm giúp hệ rễ của cây hô hấp tốt hơn
Bằng kỹ thuật này, bài trên đã thử nghiệm thành công trên các giống kiểng lá như sau:
Thanh Tâm, Lẽ Bạn, Thuyền Trưởng Vàng, Nhẫn Bạc, Trầu Bà Chân Rít, Trúc Nhật Đốm Vàng, Tay Phật, Kim Phát Tài, Dạ Lan Italia, Trường Sinh, Trầu Bà Pháp, Thái Lan, Việt Nam, Phát Tài Mỹ, Phát Tài Thái Lan, Nguyên Thảo, Dương xỉ Thái Lan…

Bảng số 1: Môi trường nuôi trồng một số lọai kiểng lá

Hóa chất

Liều lượng đảm bảo cho sự

phát triển của cây kiểng lá

(ml/100L)

Ca(NO3)2 1M

100

KNO3 2M

100

KH2PO4 0.5 M

80

MgSO4 1M

110

K2SiO3 0.1 M

80

FeCl3 50 mM

3

EDDHA (Red) 100 mM

10

MnCl2 60 mM

15

ZnCl2 20 mM

20

H3BO3 40 mM

50

CuCl2 20 mM

20

Na2MoO4 1 mM

10

pH

6.0 – 6.8

Hình 1: Các giống kiểng lá đã thử nghiệm thành công khi nuôi trồng trong môi trường thủy canh. Từ trái qua phải gồm các giống: Cau núi, Thin Thanh, Tay Phật, Quân Tử, Kim Phát Tài, Dạ Lan Italia, Trường Sinh, Trần bà Pháp, Thái, Nguyên Thảo
Th.S Nguyễn Văn Phong
(Trung tâm Khuyến nông Tp.HCM)

Kiểng lá - xu thế mới của thú chơi & kinh doanh hoa kiểng



Trong những năm trở lại đây, khi cuộc sống của người dân ổn định hơn thì thú chơi hoa kiểng trở thành một phần không nhỏ trong cuộc sống. Mỗi buổi sáng trước khi đi làm, chiều đi làm về và những thời gian của ngày nghỉ cả gia đình quây quần bên nhau, cùng nhau chăm sóc hoa cảnh trong khu vườn be bé xinh xinh, điều đó đã trở thành một nét văn hóa của người thành thị - nơi không có mảnh vườn, ao cá và thiên nhiên bao la. Tuy nhiên, cũng chính vì không có không gian rộng lớn và không có thời gian chăm sóc nên xu thế của người chơi hoa kiểng đã dần chuyển sang kiểng lá , vừa không chiếm diện tích lại không mất nhiều thời gian và công phu chăm sóc như các loại kiểng hoa hay bonsai, mai v.v…
Chợ kiểng lá cuối tuần Chiều chủ nhật, rảo một vòng quanh khu đường Thành Thái - nơi tập trung nhiều cửa hàng kinh doanh cây kiểng, chúng tôi thấy hầu như các cửa hàng mua bán kiểng lá đều đông khách. Sau một tuần làm việc nhiều người dạo chợ kiểng chọn mua cho mình một chậu cây về nhà trang trí. Nhiều người khác dạo chợ chợ chỉ với mục đích để… ngắm cây.Anh Hoàng (một khách hàng) vừa chọn mua một chậu Kim phát tài vừa tâm sự với chúng tôi: “Mình rất thích các loại kiểng lá vì nó không đòi hỏi các điều kiện khắt khe về môi trường sống cũng như kỹ thuật chăm sóc, đồng thời có thể trang trí bất kỳ nơi nào trong ngôi nhà nhỏ, ít tốn diện tích mà vẫn toát lên vẻ đẹp và sự trang trọng”.

Hoài Nam (sinh viên trường ĐHKT TP HCM) thì cho biết: “Thỉnh thoảng em vẫn hay ghé chợ kiểng. Những dịp sinh nhật bạn bè, mua tặng cho bạn một cây bạch mã hay một chậu xương rồng nhỏ, em thấy cũng có ý nghĩa”. Kiểng lá rất phong phú về chủng loại, đa dạng về màu sắc, kích thước. Người chơi kiểng lá đặt những cái tên rất kêu cho mỗi loại, nào là “Cung điện vàng”, “Bạch mã hoàng tử”, nào là “Trầu bà đế vương”, “Sao sáng”, “Oai hùng”, “Đại đế”, “Hồng quân tử”…

Mỗi loại kiểng lá có những nét đẹp, sự hấp dẫn và phong cách riêng không giống như các loại bonsai, kiểng cổ thường dựa vào các hình thế cổ điển mà tạo dáng.Giá cả các loại kiểng lá khá bình dân, phù hợp với túi tiền của đa số nhân viên văn phòng hay công chức. Trao đổi với chúng tôi, chị Hoa (chủ cơ sở kinh doanh hoa kiểng Lan Anh) cho biết: “Các giống kiểng lá một số có nguồn gốc từ Thái Lan được các nhà vườn mạnh dạn nhập về, nhân giống và sản xuất. Giá kiểng lá rẻ hơn rất nhiều so với kiểng hoa, thường thì một chậu kim phát tài, hay một dây trầu bà chỉ khoảng mấy chục ngàn. Ai cũng có thể mua về chơi được. Về cái nôi kiểng lá miền Tây



Theo sự hướng dẫn của những người chơi sành kiểng lá, chúng tôi xuôi về Cái Mơn (Bến Tre). Nghe mọi người nói ở đây có vườn kiểng lá của chị Út Thu - một trong những cơ sở trồng kiểng lá lớn nhất ở miền Tây Nam bộ.Sau gần ba tiếng đồng hồ chạy xe dọc theo Quốc lộ và hỏi thăm đường, chúng tôi đến được cơ sở sản xuất kinh doanh hoa kiểng Hoàng Duy. Tiếp chúng tôi niềm nở, chị Út Thu (Nguyễn Thị Nguyệt Thu – người từng được mệnh danh là nữ hoàng Kiểng lá của Bến Tre) vừa trò chuyện vừa hướng dẫn tham quan mảnh vườn rộng hơn 10.000m2 bạt ngàn các loại kiểng lá mà chị vừa đầu tư xây dựng năm ngoái. Chị Thu tâm sự: “Trồng kiểng lá cũng cực không kém làm hoa kiểng vì phải làm quanh năm chứ không làm thời vụ như trồng mai, trồng phong lan...

Nhưng được một cái là vui. Khách hàng đặt mua liên tục với số lượng nhiều nên hầu như lúc nào vườn của chị cũng cũng trong tình trạng thiếu hàng và phải trồng gia tăng để kịp giao cho khách.Được biết, để học hỏi kinh nghiệm trồng và chăm sóc kiểng lá, chị Thu đã cất công qua tận Thái Lan tìm hiểu về thị trường cây cảnh. Chị cho biết: Từ tết năm ngoái, vườn của chị đã có một số giống kiểng lá mang về từ Thái Lan nuôi trồng thành công và đem bán ra thị trường. các giống như Nguyệt Quế Thái, Kim Phát tài được nhiều khách hàng ưa chuộng.Ngoài chị Út Thu, Cái Mơn và các vùng lân cận còn có hàng ngàn cơ sở sản xuất kinh doanh các loại hình kiểng lá, không mò mẫm tự làm mà các nhà vườn đã biết hợp tác với các cơ sở nghiên cứu khoa học để vận dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và nhân giống. Đây chính là tiền đề để làng nghề hoa kiểng Cái Mơn trở nên nổi tiếng và đạt nhiều thành tựu trong các cuộc thi hoa kiểng như festival Hoa Đà Lạt v.v…

Kiểng lá không chỉ là một trào lưu của thú chơi và kinh doanh hoa kiểng mà nó thực sự có được một nền tảng vững chắc và tương lai ổn định vì đánh được vào thị hiếu của đại đa số người yêu hoa kiểng với sự phong phú đa dạng về chủng loại, màu sắc; dễ chăm sóc; phù hợp với nhiều không gian và đặc biệt là có giá cả khá phù hợp với mức sống hiện nay của đa số người lao động. Hy vọng rằng, kiểng lá sẽ còn tiến xa hơn nữa với sự tiến bộ về kỹ thuật công nghệ của nhà vườn, hòa cùng con đường hội nhập của Việt Nam – kiểng lá sẽ không chỉ dành cho thị trường trong nước mà còn vươn xa ra thị trường thế giới.

Trích http://www.uttungbonsai.com